Để con bạn khỏe mạnh,thông minh và thành đạt

Để con bạn khỏe mạnh,thông minh và thành đạt

C ha mẹ nào có con ở lứa tuổi từ 6 tháng tới 3 tuổi mà không trải qua những đêm mất ngủ, hoặc thường xuyên phải nghỉ làm vì con ốm? Rồi các đợt kháng sinh làm trẻ bị tiêu chảy cả tuần lễ? Tại sao trẻ hay ốm trong giai đoạn này như vậy? Thường đây là giai đoạn trẻ hết bú sữa mẹ và bắt đầu tiếp xúc với môi trường ngoài – nơi có nhiều tác nhân gây bệnh. Sữa mẹ là nguồn giàu dinh dưỡng, đặc biệt có Lactoferrin và axit béo Omega 3 giúp trẻ tránh được viêm nhiễm. Lactoferrin chỉ có trong sữa mẹ mà không có trong các nguồn dinh dưỡng tự nhiên khác (có một lượng nhỏ không đáng kể trong sữa bò). Không còn sự bảo vệ của các nhân tố miễn dịch từ sữa mẹ và còn non nớt chưa có kinh nghiệm tự bảo vệ mình, hệ miễn dịch của trẻ không còn cách nào đành phải để các con vi rút, vi trùng xâm nhập, phát triển và hoành hành trong cơ thể trẻ.

Trong giai đoạn này, nếu trẻ không có được sự hỗ trợ để nhanh chóng chống đỡ với các mầm bệnh, sẽ dẫn tới viêm nhiễm tái phát và kéo dài ngay giai đoạn đó, cũng như có thể để lại các hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe về lâu dài. Việc này có thể làm giảm, chậm hay gây bất bình thường tới sự phát triển của các hệ thống khác trong cơ thể; Ví dụ nếu trẻ liên tục bị tiêu chảy do sử dụng kháng sinh, hệ đường ruột sẽ bị hỏng, trẻ không hấp thụ được thức ăn và sẽ còi cọc, ốm yếu. Các nghiên cứu khoa học cho thấy bổ sung Lactoferrin (chiết xuất từ Sữa non Bò) không những làm giảm nguy cơ ốm, mà còn làm tăng sức khỏe của hệ Tiêu hóa ở trẻ, bổ sung Axit béo Omega 3 có thể làm giảm nguy cơ dị ứng và nhiễm trùng ở trẻ.

M ột chức năng nữa cũng rất quan trọng trong những năm đầu đời đó là sự triển của Não. Phần lớn sự phát triển của não xảy ra trong ba năm đầu (Hình 1); sau 9 tuổi thì hầu như không còn phát triển. Một khi cấu trúc của não đã hình thành thì rất khó để thay đổi nó. Trong giai đoạn não đang phát triển nhất này, trẻ có thể học những thông tin mới nhanh hơn rất nhiều so với khi đã trưởng thành. Vì vậy nhiều bậc cha mẹ rất tự hào là con mình học một ngôn ngữ mới nhanh hơn chính bản thân cha mẹ!

Khả năng hoạt động của não phụ thuộc vào các dinh dưỡng thiết yếu như axit béo Docosahexaenoic acid (DHA), một số các vitamin và muối khoáng; Nghiên cứu cho thấy DHA là một acid chiếm phần lớn trong não, trong võng mạc, và nó cần thiết để não phát triển kể cả về khối lượng, cấu trúc cũng như chức năng. Bổ sung DHA giúp tăng cường thị giác, khả năng tập trung, khả năng phát triển vận động, nhận thức cũng như chỉ số IQ ở trẻ.

L actoferrin, DHA, omega 3, các vitamin và muối khoáng được thảo luận trên đây có trong sữa mẹ ở các mức khác nhau. Với các trẻ không được bú sữa mẹ, và sau khi hết bú sữa mẹ, thì trước đây chuyện bổ sung các dưỡng chất này đủ liều hàng ngày từ nguồn thức ăn là rất khó; nhất là Lactoferrin, vì nó chỉ có trong sữa mẹ.

Tuy nhiên hiện nay vấn đề này đã dễ dàng giải quyết với sản phẩm Totalcare – một mặt hàng rất độc đáo, duy nhất trên thị trường có xuất xứ từ Úc. Totalcare có chứa Lactoferrin, DHA và EPA từ Dầu Cá Ngừ Tự nhiên, Iốt, Sắt, các Vitamin, Canxi, Photpho, Vitamin D3. Điểm đặc biệt nhất là Totalcare ở dạng viên nang mềm có thể nhai, nuốt hoặc trộn vào đồ ăn thức uống của trẻ – rất dễ dàng sử dụng. Sản phẩm có một hình thức rất hấp dẫn với trẻ: viên thuốc tròn có hai màu xanh đỏ, có mùi thơm và hương vị hấp dẫn của Dâu Tây, béo ngậy của Sữa Dừa. Các trẻ em đã sử dụng đều rất yêu thích viên thuốc này. Sản phẩm này sẽ giúp các bậc cha mẹ dễ dàng đảm bảo được con mình có những dưỡng chất thiết yếu, giúp các Tiểu Hoàng đế và các Tiểu Công chúa có thể phát huy hết tiềm năng của mình.

Tài liệu tham khảo:
Dekaban, A.S., Ann Neurol, 1978. 4(4): p. 345-56; Dobbing, J. and Sands. J., Arch Dis Child, 1973. 48(10): p. 757-67; Helland, I.B., et al., Pediatrics, 2003. 111(1): p. e39-44; Jensen, C. L., R. G. Voigt, et al. (2005 Am J Clin Nutr 82(1): 125-132; Jensen, C. L., R. G. Voigt, et al. (2010). J Pediatr 157(6): 900-905; Innis, S.M., J. Gilley, and J. Werker, Am J Clin Nutr, 2002. 75: p. 406S; King, J.C., Jr., et al., J Pediatr Gastroenterol Nutr, 2007. 44(2): p. 245-51; Manzoni, P., et al., JAMA, 2009. 302(13): p. 1421-8.

Dịch từ bài viết khoa học cung cấp bởi hảng AusBiomed, Australia